Mẫu đơn thờ linh cốt

Khóa Tu Mùa Hè 2017









 

Trang Nhà > Tu Học > Kinh Văn

Kinh Chánh Tri Kiến

Kinh này do ngài Xá Lợi Phất (Sàriputta) nói tại tu viện Cấp Cô Độc, Xá Vệ (Sàvatthi). Kinh thuộc loại vô vấn tự thuyết.

Mở đầu pháp thoại, ngài Xá Lợi Phất đặt vấn đề : “Phải như thế nào, một vị thánh đệ tử được xem là có chánh tri kiến, có lòng tin tuyệt đối để thành tựu diệu pháp ?” - Ngài giải thích : khi nào vị thánh đệ tử biết được bất thiện, và biết được nguyên nhân của bất thiện, khi ấy vị thánh đệ tử được xem là người có chánh tri kiến, có lòng tin tuyệt đối, và rồi sẽ thành tựu được diệu pháp.

Những pháp bất thiện được ngài Xá Lợi Phất kể ra không gì khác hơn là 10 nghiệp ác phát ra hằng ngày từ nơi thân, khẩu, ý của chúng ta. Thân nghiệp gồm 3 điều : sát sanh hại vật, trộm cướp buông lung, tà hạnh bất chánh. Khẩu nghiệp gồm 4 điều : nói dối láo, nói lời đâm thọc, vu khống mạ lỵ, nói lời hoa mỹ để mê hoặc người khác. Ý nghiệp có 3 điều : tham dục mong cầu, sân hận ghét gỏng, si mê tà kiến. Cội nguồn của ác pháp đưa đẩy chúng sanh vào trong sanh tử luân hồi không gì khác hơn là tham, sân, si.

Một khi đã thấy được bất thiện và nguyên nhân của nó, cũng có nghĩa là thấy được thiện và nguồn gốc của thiện. Và, dĩ nhiên, vị thánh đệ tử là chăm lo hành trì thiện pháp và tiêu diệt ác pháp.

Cùng một thể như vậy với những sinh hoạt hằng ngày : ăn uống, ngủ nghỉ, nói năng...từ thân đến tâm, nhất nhất đều phải có chánh tri kiến để thấy rõ kết quả, sự tập khởi, sự đoạn diệt và phương pháp giúp đoạn diệt ác pháp.

Kinh diễn tả có tất cả 16 đề mục từ thô đến tế như là: sanh, lão, bệnh, tử, sắc, thọ, tưởng, hành, thức v.v...Một vị thánh đệ tử có chánh tri kiến bao giờ cũng  nhìn thấy quả rồi tìm về nhân; cương quyết tiêu diệt nhân, và khéo léo xử dụng những phương pháp để đoạn giảm và tiêu diệt nguyên nhân ấy.

Xin tham khảo :
* Việt tạng : Trung bộ kinh I, Kinh chánh tri kiến, tr.111
* Hán tạng : Tạp A Hàm, CĐ 2, Kinh số 344, tr. 94/giữa
* Anh tạng : Middle length sayings I, Discourse on Perfect View, 57
* Pàli tạng : Majjhima Nikàya, Sammàditthi Sutta, 9